Nam Vu Nam Vu - Art and Ads

Câu chuyện về khát vọng và năng lượng đô thị tại Việt Nam được kể qua các công trình kiến trúc ‘Southern Modern Architecture’

Kiến trúc hiện đại phát triển mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam kể từ năm 1945 đến năm 1975, trở thành thời kỳ hoàng kim cho lối kiến ​​trúc Mid-century Modernist Architecture.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai và sự trì trệ của chính quyền thực dân Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, miền Nam Việt Nam lúc này đã có thể nhìn thấy được sự kết thúc của chủ nghĩa thực dân gần như đã đến và bắt đầu chuyển sang xây dựng nền kinh tế tiêu dùng để bổ sung cho nền kinh tế khai thác tài nguyên thuộc địa. Với những ngành công nghiệp mới và nền kinh tế phi chính thức đang bùng nổ dựa trên dòng người di cư vào thành phố, Sài Gòn bỗng chốc mang trong mình một nguồn năng lượng to lớn. Nguồn năng lượng này ngay lập tức đã dẫn đến một xã hội rời bỏ chủ nghĩa thực dân vào năm 1954 và xây dựng nên một nền văn hóa độc lập, lạc quan hướng đến tương lai.

Các kiến ​​trúc sư Việt Nam đã trực tiếp vượt qua kiến ​​trúc tân cổ điển (neoclassical) và trang trí nghệ thuật (art deco) của giới kiến ​​trúc sư Pháp để hướng thẳng tới chủ nghĩa đương đại vì nó thể hiện quyền tự chủ cũng như khát vọng trở thành một đất nước tân tiến trong kỷ nguyên công nghiệp. Công trình Dinh Độc Lập mới theo chủ nghĩa hiện đại, được chiếm đóng vào năm 1966, khẳng định rõ nguồn năng lượng này và khát vọng của một quốc gia độc lập. Người dân đã đón nhận chủ nghĩa hiện đại nhưng đã biến nó trở thành một thứ mang đậm dấu ấn Việt Nam.

Một trong những ví dụ nổi bật nhất của Sài Gòn về lối kiến trúc hiện đại, Dinh Độc Lập, được xây dựng vào đầu những năm 1960.

Trong khi đó, sự gia tăng của tầng lớp trung lưu trẻ từ nền kinh tế mới đã dẫn đến việc lấp đầy các khu chung cư hiện đại trong nội thành. Nguồn năng lượng này không hề bị suy giảm trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai khi đất nước tiếp tục xây dựng các ngành công nghiệp bổ sung cần thiết để duy trì cuộc chiến.

Các cuộc chiến tranh Đông Dương đã khiến nhiều người dân nông thôn phải sống chen chúc trong các khu phố ven đô thị. Trong những năm chiến tranh từ 1950 đến 1975, dân số thành phố tăng từ dưới một triệu người lên hơn bốn triệu người. Kể từ sau chiến tranh, người dân nông thôn tiếp tục di chuyển vào thành phố để tìm kiếm cơ hội và việc làm. Ví dụ, quận Phú Nhuận, giữa trung tâm thành phố và sân bay, đầy rẫy những căn lều lụp xụp trước năm 1975, họ chiếm dụng những mảnh đất nhỏ dọc theo các con đường, điều không được quy hoạch trước đó và thành lập bởi các hộ gia đình mới chuyển đến. Đó là lý do tại sao các lối đi giữa các con phố lớn không hề có một khuôn mẫu hợp lý. Theo thời gian, những căn nhà lụp xụp mỏng manh đã được thay thế bằng những ngôi nhà xây một tầng có diện tích và hình dạng như nhau. Sau đó một vài năm, những ngôi nhà nhỏ này đã được thay thế bằng các cấu trúc hiện đại hai tầng khi các gia đình phát triển. Gần đây hơn, các cấu trúc hiện đại năm tầng đang thay thế các cấu trúc nhỏ hơn. Sự đổi mới liên tục như thế này diễn ra ở tất cả các khu vực lân cận, và đây là một động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của thành phố và là một cánh đồng màu mỡ để thử nghiệm kiến ​​trúc hiện đại.

Chủ nghĩa hiện đại tại Đại học Sư phạm Huế. Ảnh của Michael Tatarski.

Thay đổi theo thời gian đã chứng kiến ​​sự gia tăng nhanh chóng về chiều cao và mật độ thông qua sự đổi mới liên tục tại các khu vực lân cận. Kể từ khi đất nước thống nhất vào năm 1975, chiều cao công trình nhà ở trung bình tăng từ hai, ba tầng lên 4-5 tầng ở các quận nội thành. Các tòa nhà cao tầng thương mại cũng như nhà ở không được xây dựng thành các tòa tháp đơn lẻ xung quanh các quận nội và ngoại thành dọc theo các tuyến phố thương mại lớn, và các khu dân cư lớn nhiều tòa nhà tập trung dọc theo sông Sài Gòn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thông báo rằng dân số của Thành phố Hồ Chí Minh là 13 triệu người vào năm 2017.

Nghị lực và bản sắc hướng tới tương lai của người Việt Nam ngày nay vẫn tiếp tục không suy giảm. Một trong những khía cạnh hấp dẫn nhất của điều này là sự phát triển của tầng lớp trung lưu Việt Nam, với tất cả những khát vọng hiện đại đi kèm với nó. Tuy nhiên, người Việt Nam không miễn nhiễm với chủ nghĩa toàn cầu cũng như sự đồng nhất về văn hóa. Nhưng họ sải bước và uốn cong nó để phù hợp với ý muốn của họ. Từ xa xưa khi tiếp xúc với thương nhân thế giới, người Việt Nam rất cởi mở với những ý tưởng mới, nhưng họ đã điều chỉnh chúng để phù hợp với nhu cầu và văn hóa Việt Nam. Đặc điểm này tiếp tục phục vụ tốt cho người Việt Nam ngày nay. Vì vậy, họ đã trở thành công dân của thế giới ngay cả khi vẫn duy trì được một bản sắc Việt Nam đặc trưng.

Thư viện Khoa học Tổng hợp tại số 69 Lý Tự Trọng, Quận 1. Ảnh của Michael Tatarski.

Kết quả chính của nguồn năng lượng to lớn này là cường độ sống và trải nghiệm. Người Việt Nam có khiếu thiết kế bẩm sinh, tạo ra màu sắc, hoa văn, âm thanh, mùi và thị hiếu sống động, tinh vi trong môi trường đô thị. Cuộc sống đô thị Việt Nam bao gồm một số thứ lộn xộn và hỗn loạn, nhưng đó lại là biểu hiện của mức năng lượng cao. Vào thời điểm người Việt Nam làm cho môi trường đô thị trở nên trật tự và thuận tiện hơn, mức năng lượng có thể sẽ dần giảm đi theo tiến độ.

Trong hơn 70 năm, các kiến ​​trúc sư, nhà xây dựng và chủ sở hữu nhà đất đã thử nghiệm màu sắc và hoa văn cho mặt tiền tiêu chuẩn của một ngôi nhà đô thị rộng 4 mét cao 5 tầng. Kết quả là một sự phát triển tinh vi của kiến ​​trúc hiện đại, phù hợp với khí hậu nhiệt đới Việt Nam trong một không gian hạn hẹp. Thử nghiệm đa dạng này làm nổi bật cường độ của cuộc sống đô thị dọc theo các con phố.

Một khán phòng theo chủ nghĩa hiện đại tại Đại học Sư phạm Huế. Ảnh của Michael Tatarski.

Một động lực chính của cuộc sống mạnh mẽ này là bởi mật độ dân số cao. Cùng với sự phát triển của các khu dân cư cao tầng, chiều cao trung bình của các căn shophouse và tỷ lệ lấp đầy cao dẫn đến một trong những thành phố có mật độ dân số cao nhất so với bất kỳ thành phố nào trên thế giới. Cùng với nhiệt độ nhiệt đới khuyến khích cuộc sống ngoài trời, điều này tạo ra một môi trường đô thị tràn ngập việc con người đóng góp hình ảnh, âm thanh, mùi vị và thị hiếu của họ cho người khác. Hàng loạt thức ăn đường phố, âm nhạc, karaoke và bán hàng dọc theo hầu hết các con phố đang kích thích và tiếp thêm sinh lực. Những điều kiện này tạo nên điều kiện thuận lợi cho sự hòa đồng tự nhiên của người Việt Nam.

Do đó, kiến ​​trúc hiện đại Việt Nam không phải là chủ nghĩa hiện đại vô hồn, nhạt nhẽo của các tòa nhà theo Phong cách Quốc tế (International Style) được nhìn thấy trên khắp thế giới, bao gồm cả trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Năng lượng tầng lớp trung lưu của Việt Nam, đặc biệt là ở miền Nam, đã tạo nên cuộc sống và bản sắc vô cùng sâu sắc này, và tính thâm dụng của người Việt là đặc điểm cốt lõi của kiến ​​trúc hiện đại Việt Nam. Như đã trình bày trong cuốn sách, kiến ​​trúc hiện đại Việt Nam giữa thế kỷ có quy mô con người và sống động với mức độ khớp nối cao của các yếu tố trong hình thức và bố cục công trình. Nhưng có rất nhiều nghịch lý trong văn hóa Việt Nam. Kiến trúc truyền thống Việt Nam nhẹ nhàng, nhưng trang nhã. Tông màu đất thường được sử dụng cho màu sắc. Tuy nhiên, bản chất hạn chế của kiến ​​trúc Việt Nam vẫn tồn tại cùng với sức sống mãnh liệt. Các kiến ​​trúc sư Việt Nam đã thành công trong việc nắm bắt sự phức tạp này trong kiến ​​trúc chủ nghĩa hiện đại Việt Nam phản ánh bản sắc sâu sắc của người Việt.

Một ngôi nhà nhỏ theo chủ nghĩa hiện đại ở ngoại ô Quy Nhơn. Ảnh của Michael Tatarski.

Bài viết này tập trung vào miền Nam Việt Nam như một trung tâm của chủ nghĩa hiện đại. Vẫn có kiến ​​trúc hiện đại ở miền Bắc Việt Nam, nhưng nó lại không chiếm ưu thế tại các tỉnh miền Bắc. Kiến trúc bản địa của các ngôi nhà miền Bắc không tuân theo chủ nghĩa hiện đại. Một ngôi làng điển hình ở miền Bắc sẽ có sự pha trộn giữa gỗ và nhà xây truyền thống Việt Nam cũng những ngôi nhà xây hiện đại nhưng tân cổ điển, thường là nhiều tầng. Các căn shophouse mới ở Hà Nội chủ yếu mang phong cách tân cổ điển hay người dân miền Bắc thường gọi là “Phong cách Pháp kiểu mới” (New French Style) , một sự pha trộn chiết trung giữa phong cách cổ điển phô trương hoặc thời kỳ phục hưng.

Những kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp trường kiến trúc và nghệ thuật Pháp École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine tại Hà Nội năm 1931. Một số sinh viên tốt nghiệp ở miền Bắc, số khác trở về miền Nam. Do đó, họ đã có cơ hội được tiếp xúc với các lối kiến trúc hiện đại tại trường, thường được diễn giải và thực hiện theo phong cách trang trí nghệ thuật (Art Deco). Năm 1943 trong thời kỳ Nhật chiếm đóng, trường kiến trúc chuyển về thị trấn miền núi phía nam Đà Lạt và sau đó lại chuyển về Sài Gòn vào năm 1950.

Vẫn đang được sử dụng, Bệnh viện Thống Nhất của Quận Tân Bình do Trần Đình Quyền thiết kế và bị chiếm đóng vào năm 1972.

Các kiến ​​trúc sư miền Bắc phát triển mạnh thiết kế biệt thự theo phong cách trang trí nghệ thuật từ năm 1933 đến năm 1944. Công ty kiến ​​trúc độc lập đầu tiên do các kiến ​​trúc sư Việt Nam thành lập là công ty của Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Như Tiếp tại Hà Nội vào năm 1933, sau này là công ty của Nguyễn Gia Đức. Công việc của họ là nghệ thuật trang trí hoặc chủ nghĩa hiện đại ngay từ lúc ban đầu. Sau khi Chủ tích Hồ Chí Minh tuyên bố về nền độc lập của Việt Nam vào năm 1945 và kết quả là cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất với Pháp, cuộc kháng chiến đã đặt chân đến thời chiến, và các kiến ​​trúc sư miền Bắc Việt Nam đã chuyển sang phục vụ đất nước với các thiết kế cho quân đội cũng như các cơ sở cộng đồng trong vùng kháng chiến. Những điều kiện này vẫn tồn tại qua Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai với Hoa Kỳ và chính quyền miền Nam, và sau đó là thời kỳ tái thiết. Do đó, các tỉnh phía Bắc đã mất một thời gian dài cơ hội để phát triển một kiến ​​trúc hiện đại phù hợp với khí hậu miền Bắc, vật liệu sẵn có và sự nhạy cảm của người dân miền Bắc.

Tòa nhà “căn hộ cafe” tại 42 Nguyễn Huệ, một trong những tòa nhà hiện đại nổi bật nhất của Quận 1. Ảnh của Michael Tatarski.

Một vài thế hệ kiến ​​trúc sư miền Bắc đã được đào tạo ở các bang của Liên Xô từ năm 1945 đến năm 1990. Kết hợp với sự hỗ trợ kinh tế và kỹ thuật từ các nước khối Cộng sản, đặc biệt là Nga, trong những năm 1960 và 1970, một số tòa nhà quan trọng đã được xây dựng để triển lãm Kiểu dáng kiến ​​tạo Nga (Russian Constructivist) theo chủ nghĩa hiện đại được sửa đổi với đặc điểm Việt Nam. Trong những năm 1980 và 1990, các kiến ​​trúc sư Việt Nam đã thiết kế một số tòa nhà theo chủ nghĩa hiện đại lớn tương tự như kiến ​​trúc hiện đại của Việt Nam ở miền Nam, nhưng có phần nặng nề hơn. Điều này có lẽ phản ánh ảnh hưởng của khí hậu miền Bắc bốn mùa. Tuy nhiên, về tổng thể, kiến ​​trúc miền Bắc Việt Nam có xu hướng vẫn mang tính tiện dụng, chiết trung hoặc truyền thống hơn.

Người dịch: Nam Vu

Nguồn: saigoneer

Hình trong bài (7)