Lệ Lin Lệ Lin - Video

Đâu là cách để nhận biết phong cách Baroque giữa vô vàn tác phẩm nghệ thuật?

Làm thế nào để bạn biết được một bức tranh hay tác phẩm điêu khắc được tạo ra vào thời kì gọi là Baroque? Làm thế nào để nhận biết phong cách Baroque (những năm 1600)?

The Raising of the Cross – Peter Paul Rubens

Dưới đây là phần biên tập và diễn giải từ video How to recognize Baroque art của Smart History – trang web chuyên nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử nghệ thuật uy tín trong giới học thuật, được sáng lập bởi Tiến sĩ Steven Zucker và Tiến sĩ Beth Harris.



Hãy cùng bắt đầu với bức tượng điêu khắc quan trọng này bởi Bernini – câu chuyện trong Kinh thánh về David, người đánh bại Goliath vĩ đại.

Dường như người đàn ông này đang lấy đà bằng tất cả năng lượng mình có được. Hãy nhìn vào cách nhân vật cắn chặt môi, đôi lông mày và cách chúng nheo lại. Người họa sĩ quan sát cơ thể con người và nắm kĩ cốt lõi của việc tả thực vốn được tiếp thu trong thời Phục hưng nhưng cùng lúc đẩy chúng vào một chủ nghĩa cảm xúc mãnh liệt.

Đây cũng là dáng đứng thường chỉ giữ trong một giây phút chớp nhoáng. Cơ thể của nhân vật đã phá vỡ khỏi sự ổn định, chắc chắn vốn rất đặc trưng dưới thời Phục hưng.

Chúng ta còn có thể thấy đường chéo được tạo thành trong tư thế của nhân vật. Không phải là những đường chéo chỏng chơ mà chúng đan xen vào nhau. Vì thế nên năng lượng to lớn này không chỉ là kết quả của sự thể hiện hình thể mà còn là về hình thức và đường nét mà nghệ sĩ đục đẽo dưới lớp đá. Đó cũng là cách mà bức tượng xâm chiếm vào không gian thực mà người xem đang đứng và khiến ta trở thành một phần trong ‘câu chuyện thị giác’ này.

Với bức tượng David của Michelangelo, ta duy trì một khoảng cách nhã nhặn bởi vẻ đẹp lý tưởng của tác phẩm ấy là thứ được tạo ra để chiêm ngưỡng.

Thế nhưng, nghệ thuật Baroque lại muốn tạo ra một điều gì đấy khác biệt. Thay vì thu hút tâm trí ta, nó hấp dẫn về mặt hình thể cũng như xúc cảm. Chàng David của Michelangelo tựa như một vị thần và theo một cách nào đó, nhân vật không thể nào ‘sẵn lòng’ để hy sinh những phẩm chất thuần túy, những đường nét tuyến tính trong hình thể của mình. Hãy lưu ý đến cách mà các đường dẫn bao quanh cơ thể của bức tượng này gần như không bị cản trở, trong khi David tạo bởi Bernini thì ‘sẵn sàng’ tạo ra các đường chéo đầy nội lực và đi ra khỏi quan niệm lý tưởng truyền thống lúc bấy giờ.

Có một khía cạnh quan trọng khác chính là sự phức tạp trong bố cục của bức tượng thực hiện bởi Bernini cho phép tạo ra sự tương phản lớn hơn giữa ánh sáng và bóng tối. Bức tượng của Michelangelo tương đối phẳng nên không nhận được phần bóng sâu, còn với tượng của Bernini, sự đan chéo các đường nét trong mặt thể hiện hình thức tạo ra sự tương phản giữa phần nổi bật (highlights) và bóng tối (shadows), càng làm tăng thêm tính ‘chủ động’ cho tác phẩm.


Vậy làm thế nào để ta nhận ra điều này trong hội họa?

Một trong những ví dụ tuyệt vời là nhìn vào tranh của họa sĩ Baroque người Ý Caravaggio. Phía trên là một bức tranh nổi bật của ông cho thấy sự tương quan với bức tượng David của Bernini. Tác phẩm thể hiện việc Thánh Peter đang bị đóng đinh ngược theo chính yêu cầu của mình vì cho rằng bản thân không xứng đáng để chết theo cách của Chúa Kito trước kia.

Đáy của thập tự giá khiến ta cảm giác dường như nó đang ở rất gần, đến nỗi như có thể chạm vào. Tựa như cách David của Bernini xâm lấn vào không gian của người xem, Caravaggio sử dụng cách vẽ rút gọn (foreshortening), đồng thời tạo ra cảm giác bất ổn đáng kinh ngạc. Hãy nhìn cách mà cây thánh giá vừa được nâng lên nhưng vẫn khiến ta không khỏi thấy chông chênh khi khối lượng của Peter và của gỗ quá nặng, mọi thứ đều mang đến cảm giác không chắc chắn mang tính chuyển động.

Và ở đây ta còn có đường chéo của thập tự giá cùng một đường chéo khác được tạo bởi một người phía bên phải giúp nâng cao cây thánh giá, và người ở bên dưới đang chống đỡ với đôi lưng của mình. Do đó, chúng ta có các đường chéo cắt nhau – một đặc điểm rất phổ biến của nghệ thuật Baroque.

Ở đây, nghệ sĩ đang tạo ra một ảo ảnh về hình thức, khối lượng và một trong những cách để làm điều này là tạo ra những sự tương phản sắc nét giữa ánh sáng và bóng tối, giống như tượng điêu khắc của Bernini tạo ra một cảm giác sống động và tràn đầy năng lượng.

Những tranh thời Phục hưng là ảo ảnh về không gian, có kiến ​​trúc cũng như phong cảnh đằng sau nhân vật; nhưng ở đây, Caravaggio sử dụng bóng tối để mọi thứ còn lại được đẩy lên thành tiền cảnh. Điều này khiến cho bức tranh trở nên giàu xúc cảm, thân mật, vừa chân thật vừa như đang diễn ra ngay trong khoảnh khắc này.

Cảm xúc từ bức tranh như luồn lách vào trong chính cơ thể của người xem. Bàn chân của Peter gần như chạm đến nơi ta đứng và ta có thể thấy những chiếc đinh đã xuyên thẳng qua chân hay chiếc đinh trong lòng bàn tay ông hiển hiện ngay trước mắt. Có một mối quan tâm từ chính người họa sĩ trong việc khiến người xem như được hòa vào trong cảm xúc của nhân vật, kể cả trong sự tàn bạo ấy.

Trọng tâm như thể đã đã bị dịch chuyển và đang được nâng lên để tạo ra một sự bất ổn. Ta có thể so sánh rất rõ sự khác biệt giữa bức tranh này với một bức tranh của Raphael từ thời High Renaissance (Thời Phục Hưng cực thịnh), nhấn mạnh vào sự ổn định và cân bằng. Các đường nét trong bức tranh của Raphael tạo ra một hình kim tự tháp, được xem là dạng hình khối mang tính ổn định nhất.

Ánh sáng rõ ràng lan tỏa trên nhân vật và nằm trong không gian ba chiều này. Ta có thể dễ dàng nhận ra sự di chuyển từ tiền cảnh, trung cảnh đến hậu cảnh. Trong khi Raphael cho ta nhiều thông tin thị giác nhất có thể, không chỉ về ba nhân vật ở phía trước mà còn về thế giới tự nhiên bên ngoài họ thì Caravaggio cẩn thận hơn trong việc sắp đặt những gì người xem sẽ tập trung vào.

Hãy nhìn vào khuôn mặt xinh đẹp của Madonna. Người phụ nữ ấy không phải là một cá nhân cụ thể mà là người Mẹ thiêng liêng của Chúa. Nhưng Peter là một người đàn ông cụ thể, tại một thời điểm riêng tư trong cuộc đời ông với những bụi bẩn và quần áo nhăn nhúm – một thế giới thực hơn nhiều so với những gì ta từng thấy trong thời Thịnh Phục Hưng.


Tất cả những gì ta vừa phân tích phía trên đều là nghệ thuật tại Ý.

Ở Hà Lan, chúng ta sẽ được xem những bức tranh rất khác so với các bức tranh thờ tụng từ Công giáo Châu Âu (Catholic Europe), và đó là vì nơi đây là một quốc gia Tin lành (Protestant country), các nghệ sĩ không còn được ủy thác vẽ cho nhà thờ nữa*. Vì vậy, hãy lấy thứ gì đó có vẻ trái ngược với nghệ thuật Baroque mà chúng ta đã nói đến, ví dụ như bức tranh Woman with a Water Pitcher (Người phụ nữ và bình nước) của Vermerer.

*Châu Âu vào khoảng 1650 được chia ra làm hai phe: các nơi theo đạo Công giáo (Catholic) và các nước theo đạo Tin lành (Protestant). Cộng hòa Hà Lan (được nhắc tới trong bài phân tích này) là một trong các quốc gia đang theo đạo Tin lành lúc bấy giờ.

Thay vì nhìn thấy một sự diễn giải thị giác trong Kinh thánh, chúng ta đang thấy một cảnh trong nhà đơn thuần của một người phụ nữ giàu có tại Bắc Âu.

Vậy điều gì tạo nên tính Baroque cho bức tranh này?

Mọi thứ trong tranh đều mang một sự yên tĩnh. Ánh sáng có một sự tinh tế riêng. Nó rất khác với tính kịch và bạo lực về ánh sáng mà chúng ta đã thấy ở tranh của Caravaggio. Thay vào đó, người nghệ sĩ dường như đầy đam mê trong việc dựng lại ánh sáng với sự chuyển màu nhẹ nhàng. Hãy nhìn vào cách ánh sáng xuyên qua cái mũ của nhân vật hay dưới cánh tay phải khi cô đang mở cửa sổ.

Chúng ta thấy nhân vật như bị vây hãm bởi bởi các hình khối được tạo ra bởi đường thẳng (rectilinear forms): Hình chữ nhật của cửa sổ, bản đồ ở phía trên bên phải, hình chữ nhật của cái bàn ở phía dưới bên phải, còn nhân vật tọa ngay ở giữa những điều ấy. Nhưng nhân vật đang di chuyểnchống lại sự ổn định và tính hình học được thiết lập bởi môi trường xung quanh mình. Người phụ nữ ấy đang nâng hoặc đặt bình xuống cùng lúc với việc mở cửa sổ, và khoảnh khắc được nắm bắt ngay phút giây ấy vào tranh. Ngay cả ánh sáng cũng đem lại cảm giác lưng chừng ở giữa: Ánh sáng chiếu vào từ bên ngoài và ánh sáng ở bên trong. Và sự quan tâm đến ánh sáng là chìa khóa cho nghệ thuật Baroque, cho dù đó là tác phẩm mang tích chính kịch của Caravaggio hay sự tinh tế của ánh sáng trong Vermeer.

Chúng ta như đang đứng gần với nhân vật, như ta có thể vươn ra và cảm nhận tấm thảm đó phủ lên bàn. Sự gần gũi mà chúng ta đã thấy trong tranh của Caravaggio và Bernini vẫn còn ở đây.


Hãy di chuyển qua tất cả các tranh khác nhau,

Làm thế nào để chúng ta nhận ra Baroque trong tranh phong cảnh Hà Lan thế kỷ 17?

Trên đây là bức tranh tuyệt đẹp của Ruisdael, nhưng lưu ý rằng nó không phải là một cảnh quan hoàn hảo. Đây là phong cảnh quê hương Haarlem của vị họa sĩ. Ta gọi đây là tranh phong cảnh, nhưng thực chất là những bức tranh về mây: chúng đồ sộ, nặng nề di chuyển trên bầu trời. Ta như có thể thấy chúng thành hình và tan biến ngay trước mắt. Đây vẫn là về quá trình chuyển đổi, và hãy nhìn vào cách những đám mây đó tạo ra bóng đổ xen kẽ lên vùng đất bên dưới.

Vì vậy, nghệ thuật Baroque là về thời gian hay hiệu ứng ánh sáng, cho dù đầy kịch tính hay tinh tế hơn; nó còn là việc lôi kéo người xem, di chuyển vào không gian của chúng ta, về sự phá vỡ rào cản giữa người xem và tác phẩm nghệ thuật. Đó là về việc sử dụng đường chéo, tạo ra cảm giác đầy năng lượng và kịch tính, đôi khi sự kịch tích ấy khá tính tinh tế, nhưng vẫn không khác biệt mấy. Có khi, nó còn là việc đem lại cảm giác như ta đang trong một mối quan hệ trực tiếp với chủ thể trong bức tranh vậy.


Biên tập và lược dịch: Lệ Lin

Hình trong bài (18)